Sau khi đạt tới mục tiêu đáp ứng các tiêu chuẩn của Hiệp định TRIRS, để cùng với các lĩnh vực khác góp sức đưa Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, trên con đường tiếp tục phát triển, Hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam được đặt trước nhiều thách thức mới to lớn; Trong đó thách thức to lớn nhất, lâu dài và khó vượt qua nhất là bản thân nó phải chứng minh và thực hiện được vai trò tích cực, có đóng góp thực sự hiệu quả trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Thể hiện vai trò tích cực và có đóng góp hiệu quả đối với việc phát triển kinh tế - xã hội là thách thức lớn nhất bởi đó là mục tiêu cao nhất và cuối cùng, là lý do tồn tại và phát triển của Hệ thống sở hữu trí tuệ. Đòi hỏi của chính công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia là cội rễ của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống đó chứ không phải là chỉ nhằm hướng ra bên ngoài hay vì sức ép của bên ngoài.
Nhưng, đạt được mục tiêu to lớn nói trên là việc khó khăn và lâu dài bởi bản thân Hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam còn thiếu nhiều thứ và để có những thứ đó là không dễ dàng và không phải trong ngày một ngày hai. Thiếu hụt lớn nhất hiện nay là sự thiếu hụt về nhân lực và về lý luận. Hầu như mọi bộ phận của Hệ thống sở hữu trí tuệ đều thiếu hụt trầm trọng những người có hiểu biết và kỹ năng về sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam - chủ thể quan trọng nhất của hoạt động sở hữu trí tuệ - đều chưa có người chăm lo cho tài sản trí tuệ của mình. Nhiều vấn đề lý luận then chốt về sở hữu trí tuệ còn là điều lạ lẫm. Nhiều sự kiện, vấn đề thực tiễn còn chưa được lý giải hoặc soi sáng. Những thứ đang có mới chỉ là những yếu tố pháp lý cơ bản mà chưa phải là tất cả mọi yếu tố để Hệ thống vận hành hữu hiệu. Cần nhớ rằng, để có những thứ đó, Việt Nam đã phải phấn đấu liên tục trong hơn 20 năm!
Viện Khoa học sở hữu trí tuệ được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập nhằm đóng góp phần nhỏ bé với toàn xã hội khắc phục những thiếu hụt nói trên cùng nhằm mục tiêu thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của Hệ thống sở hữu trí tuệ theo chiều sâu. Chức năng chính của Viện Khoa học sở hữu trí tuệ là nghiên cứu lý luận và đào tạo - bồi dưỡng nhân lực trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Về hoạt động nghiên cứu, Viện chủ trương kết hợp giữa việc tự nghiên cứu và giới thiệu hoặc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức đồng nghiệp. Chúng tôi coi hữu ích và có khả năng ứng dụng thiết thực là tiêu chuẩn cao nhất cho các hoạt động tự nghiên cứu trong giai đoạn trước mắt. Bởi thế, nghiên cứu ứng dụng sẽ được coi là hướng nghiên cứu ưu tiên trong giai đoạn này. Chủ đề nghiên cứu được quan tâm sẽ là các khía cạnh kinh tế liên quan đến tài sản trí tuệ và các khía cạnh pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
Về hoạt động đào tạo và bồi dưỡng nhân lực, Viện đặt mối quan tâm hàng đầu đến việc xây dựng đội ngũ quản trị viên tài sản trí tuệ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Để làm được việc đó, chúng tôi chủ trương phối hợp với các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp từng bước xây dựng và hoàn thiện các chương trình bồi dưỡng lý luận và kỹ năng quản trị loại tài sản đặc biệt này, thí điểm tiến tới triển khai rộng rãi các chương trình đó. Mục tiêu kỳ vọng là đến khoảng năm 2015, về cơ bản các doanh nghiệp lớn và vừa của Việt Nam đều có cán bộ quản trị tài sản trí tuệ của riêng mình. Các đối tượng với các chương trình bồi dưỡng khác cũng sẽ là mối quan tâm của chúng tôi.
Ngoài nghiên cứu và đào tạo, Viện Khoa học sở hữu trí tuệ còn được giao một nhiệm vụ đặc biệt đó là tiến hành các hoạt động giám định về sở hữu công nghiệp phục vụ cho việc giải quyết và xử lý các vụ tranh chấp, vi phạm, xâm phạm về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý... Đó là một nhiệm vụ đặc biệt bởi không những việc đưa ra các kết luận chuyên môn làm cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền và các bên tranh chấp đưa ra các quyết định xử lý, giải quyết là một công việc phức tạp, đòi hỏi khả năng chuyên môn và thái độ khách quan cao mà còn bởi vì đây là mô hình lạ đối với thế giới.
Để thực hiện tốt ba chức năng trên, chúng tôi đặc biệt coi trọng việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác, đối tác với các chuyên gia và các tổ chức khác. Đó là lý do của việc có nhiều chuyên gia trong danh sách cán bộ cộng tác viên của Viện Khoa học sở hữu trí tuệ.
Với nguồn lực và khả năng hạn chế, Viện Khoa học sở hữu trí tuệ sẽ cố gắng đặt ra các mục tiêu phù hợp và các giải pháp thích đáng để đạt các mục tiêu đó.
Chúng tôi hi vọng và tin tưởng rằng Viện Khoa học sở hữu trí tuệ sẽ có đóng góp thiết thực trong sự nghiệp chung phát triển và hoàn thiện Hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam.
Ngày 1/7/2009
Phạm Đình Chướng
Viện trưởng Viện Khoa học sở hữu trí tuệ